Ngoài các loại máy dạng tổ hợp, ngày nay nhiều kho lạnh vẫn sứ dụng các loại máy và thiết bị đơn lẻ để lắp đặt thành hệ thống. Nhược điểm cơ bản của hệ thống này là công việc lắp ráp, căn chỉnh máy, tính toán gia công các đường ống nối tại hiện trường rất lớn. Nhưng chúng có ưu điểm là tháo lắp vận chuyển đễ dàng, khả năng ứng dụng rộng rãi.

Sơ đồ hệ thống lạnh cần đáp ứng những yêu cầu sau:

  • Phải đảm bảo, duy trì được các chế độ nhiệt độ đã cho, vận hành dễ dàng, có khả năng chuyển máy và thiết bị dự phòng vào làm việc một cách nhanh chóng, cho phép thay đổi các điều kiện làm việc, đảm bảo thay thế dễ dàng Irong các trường hợp hỏng hóc và sửa chữa.
  • Cần phải đơn giản, tiện lợi cho việc lắp đặt vận hành, bảo dưỡng, không gây chi phí lớn;
  • Cần có số lượng đường ống, chiều dài đường ống và các phụ tùng, dụng cụ là ít nhất;
  • Đảm bảo an toàn cho công nhân vận hành;
  • Đảm bảo độ tin cây và tuổi thọ quy định của máy và thiết bị.
  • Cần lắp đặt và sử dụng hiệu quả các thiết bị tự động báo hiệu, điểu chỉnh, điều khiển và bảo vệ cho hệ thống.

Sau đây là các cụm máy và các hệ thống cỡ lớn:

Cụm máy nén một cấp nhiều nhiệt độ sôi

Hình dưới giới thiệu sơ đồ một cụm máy nén gồm ba máy nén một cấp phục vụ cho ba nhiệt độ sôi khác nhau tot, t02, t03

Sơ đồ cụm máy nén một cấp với nhiều nhiệt độ sôi khác nhau môi chất amoniac

Mỗi nhiệt độ bay hơi có một bình tách lỏng riêng và một máy nén riêng. Tuy nhiên cả ba máy đều được nối vào ống góp chung đường hút có bố trí các van chặn đảm bảo cho máy nén làm việc độc lập cho từng chế độ bay hơi, nhưng khi cần sửa chữa, thay thế, máy nén này có thể chuyển sang làm việc cho chế độ bay hơi khác một cách nhanh chóng nhờ đóng và mở hợp lý các van chặn.

Để đảm bảo máy nén không hút phải lòng gây va đập thuỷ lực, các ống nối với ống góp hút phải vòng lên phía trên.

Phin lọc cặn bẩn 4 có thể bố trí trước van hút 1’ hoậc bố trí ngay trone, máv nén sau van hút 1 Sau van đẩy 2’ có bố trí van một chiều. Nếu không bố trí được cho mỗi máy một van một chiều thì cũng phải bố trí chung ba máy một van một chiều ở trước bình tách dầu. Van một chiều tránh cho máy nén không phải chịu áp lực cao khi dừng máy – đảm bảo an toàn hơn cho máy vì hầu hết môi chất lạnh lỏng có áp suất cao tập trung ở các thiết bị ngay sau máy nén.

Từ các bình chứa cao áp như bình ngưng, bình chứa dầu phải có ống nối với đường hút để hạ áp suất của các bình xuống đến áp suất khí quvển trong ưường hợp thay thế, sửa chữa hay xả dầu ra ngoài.

Sau bình tách dầu phải bố trí một đường ống đến các dàn bay hơi để phá băng cho các dàn bằng hơi nóng. Bảng dụng cụ dùng để lắp các dụng cụ và áp kế cần thiết như các rơle áp suất, nhiệt độ, các áp kế hút, đẩy, áp kế dầu v.v….

Cụm máy nén hai cấp

sơ đồ cụm máy nén hai cấp amoniac

Hình trên biểu diễn cụm máy nén hai cấp gồm hai máy nén amoniăc dùng để đạt nhiệt độ sôi từ -30°C đến -40°C. Trong sơ đồ, người ta sử dụng bình trung gian 4 có ống xoắn đổ quá lạnh môi chất lỏng. Lỏng từ bình chứa đến theo đường 8 được chia làm ba nhánh. Nhánh thứ nhất vào ống góp 7 của trạm tiết lưu nhiệt độ cao (nhiệt độ trung gian) t01. Hơi sinh ra ở các dàn có nhiệt độ t01 sẽ được đưa trực tiếp vào máy nén cao áp. Nhánh thứ hai được đưa vào quá lạnh ở bình trung gian rồi vào ống góp 6 của trạm tiết lưu nhiệl độ thấp t02 cấp lỏng cho các dàn bay hơi nhiệt độ thấp. Hơi sinh ra ở các dàn này sẽ được hút vể qua tách lỏng 1 về máy nén hạ áp. Nhánh thứ ba đi qua van điện từ ĐT1, van tiết lưu đổ vào bình trung gian để làm mát trung gian cho hơi hút về máy ncn cao áp và lỏng trước khi vào trạm tiết lưu 6. Mức lỏng trong binh trung gian được giữ ổn định nhờ rơle mức lỏng 11 kết hợp vói van điện từ ĐT1.

Trạm nạp môi chất 10 được nối liền với trạm tiết lưu 6. Van 2 cho phép cấp lỏng hoặc đã được quá lạnh cho cả hai chế độ nhiệt độ. Kỹ thuật an toàn đòi hỏi là khi ngừng máy nén hai cấp, áp suất trong bình trung gian phải được hạ thấp xuống đến áp suất trong giàn bay hơi nhiệt độ thấp để khởi động máy sau đó dược dễ dàng. Bởi vậy van đưòng nối khởi động của máy nén hạ áp 2 và cao áp 5 cần phủi mờ khi máy nén ngừng làm vĩệc. Trên hình, hai van giữ chức nâng này là ĐT2 và ĐT3. Khi các van này mở, hơi từ bình trung gian và trong các đường ống đến van một chiều quay trở lại binh tách lòng, toàn bộ hệ thống có áp suất p0.

Cụm ngưng tụ và trạm tiết lưu

Hình dưới mô tả một sơ đồ đơn giản của cụm ngưng tụ và trạm tiết lưu. Hơi cao áp từ máy nén đi ra đi theo đường a để vào bình ngưng làm mát bằng nước. Sau khi ngưng tụ, lỏng theo đường 3 đi xuống bình chứa cao áp. Đường cân bằng hơi tạo điểu kiện cho lỏng chảy từ bình ngưng tụ xuống bình chứa dễ dàng. Đối với máy lạnh freôn không cần có đường cân bằng 2. Bình chứa cao áp có ống thuỷ chỉ mức lỏng chảy từ bình ngưng tụ xuống bình chứa dễ dàng. Đối với máy lạnh freôn không cần có đường cân bằng 2. Bình chứa cao áp có ống thuỷ chỉ mức lỏng (mức lỏng kế) để theo dõi mức lỏng, van an toàn để xả môi chất ra ngoài hoặc quay trở lại đường hút khi áp suất vượt quá mức cho phép. Nếu xả ra ngoài, đường ốnng xả phải đảm bảo vượt khỏi mái nhà.

Sơ đồ cụm ngưng tụ và trạm tiết lưu

Thường trên các bình chứa cao áp đều có bố trí bình tách khí không ngưng, thao tác bằng tay hoặc tự động, không thể hiện trong sơ đồ này.

Lỏng từ bình chứa được trực tiếp đến trạm tiết lưu hoặc gián tiếp qua bộ quá lạnh 6. Bộ quá lạnh thường là thiết bị trao đổi nhiệt ngược dòng kiểu ống lóng nhằm tăng hiệu suất lạnh.

Dầu từ bình 4 được đưa thẳng về bình chứa dầu nhờ độ chênh áp suất. Trước hết cần tạo áp suất thấp hơn trong bình chứa dầu 10 bằng cách mở van thông với đường hút. Khi đã có độ chênh áp suất, tiến hành mở van xả dẩu từ các thiết bị về bình chứa. Van 1’ nối trạm tiết lưu với đầu nạp và bổ sung môi chất lạnh cho hệ thống.

Sơ đồ cấp lỏng cho dàn lạnh

Hệ thống dàn bay hơi là cụm thiết bị trực tiếp thực hiện việc cấp lạnh cho phòng lạnh. Giải pháp đúng cho cụm thiết bị này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự hoạt động bình thường và hiệu quả của toàn bộ hệ thống lạnh.

Sơ đổ cụm dàn bay hợi cần đáp ứng các yêu cầu sau:

  • An toàn tuyệt đối cho hệ thống, không bị va đập thuỷ lực khi cấp lỏng cho hệ thống làm việc ở các chế độ tải nhiệt khác nhau, đặc biệt khi đầy tải và quá tải;
  • Cấp lỏng đểu cho các bc mặt trao đổi nhiệt, đảm bảo hiệu suất trao đổi nhiệt là lớn nhất;
  • Đảm bảo phân phối nhiệt độ đều trong phòng;
  • Có khả nãng cấp lỏng tự động cho dàn;
  • Thể tích chứa môi chất của hệ thống dàn là thấp nhất để tránh nguy hiểm do môi chất có thể gây ra;
  • Dễ đàng lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa;
  • Dễ dàng xả dầu, vệ sinh, xả tuyết cho dàn;
  • Cột áp thuỷ tĩnh không được ảnh hưởng đến nhiệt độ sôi (hệ thống cấp lỏng nhờ cột lỏng, bình tách lỏng ở trên, kho lạnh nhiều tầng).

Hình dưới giới thiệu ba sơ đồ cấp lỏng chủ yếu cho dàn bay hơi trực tiếp:

Sơ đồ cấp lỏng cho giàn bay hơi

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hiệu quả trao đổi nhiệt của dàn đạt cao nhất khi cấp lỏng từ dưới lên với điều kiện ngập trong dàn vừa phải.

Độ ngập lỏng của dàn được đánh giá qua độ quá nhiệt của hơi hút về máy nén. Độ ngập lỏng vừa phải có độ quá nhiệt hơi hút ổn định từ 5 đến 15K. Nếu độ quá nhiệt quá nhỏ, dàn đã được cấp quá nhiều lỏng, có nguy cơ va đập thủy lực. Nếu độ quá nhiệt quá lớn, dàn được cấp quá ít iỏng, một phần dàn chí có hơi, hiệu quả trao đổi nhiệt kém. Các sơ đồ ở đây đều theo kiểu cấp lòng từ dưới lên. Tuy nhiên vẫn có thể cấp lỏng từ trên xuống. Phương pháp này có hiệu quả trao đổi nhiệt kém nhưng khả năng hồi dầu về máy nén dễ dàng nên hay sử dụng trong hệ thống lạnh freôn.

Phương pháp cấp lỏng theo hình a thường sử dụng với các van tiết lưu nhiệt và phải đảm bảo môi chất bay hơi hết khi ra khỏi dàn bay hơi để phòng nguy cơ máy nén hút phải lỏng. Do đó phải duy trì độ quá nhiệt hơi hút tương đối lớn, dàn phải hoạt động tương đối ổn định tránh tải nhiệt đột ngột và số dàn lạnh là hạn chế.

Nếu cấp lỏng theo phương pháp hình b, lỏng có thể được liết lưu ngay vào bình tách lỏng. Lỏng tự chảy vào các đàn do chênh lệch cột lỏng. Hơi được hút về máy nén còn lỏng rơi xuống đáy bình và chảy trở lại dàn. Để đảm bảo lỏng phân phối tốt trong dàn, bình tách lỏng nên đặt cao hơn dàn cao nhấí từ 3÷5m. Sơ đồ này thường gọi là sơ đồ không bơm bình tách lỏng đặt trên cao. Sơ đồ này có nhược điểm là khi tải nhiệt thiết bị lớn, lỏng cuốn theo hơi nhiều có thể gây va đập thuỷ lực cho máy nén. Để giải quyết nhược điểm này cần lắp thêm một bình chứa bảo vệ và nối một ống xả tràn từ bình tách lỏng tới bình chứa bảo vệ.

Nhược điểm khác của sơ đồ này là nếu cột lỏng quá cao sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ bay hơi đặc biệt đối với phạm vi nhiệt độ thấp. Do các dàn ở các độ cao và độ xa khác nhau nên việc phân phối lỏng cho các dàn cung khó đổng đểu.

Sơ đồ dùng bơm tuần hoàn (hình c) có bình tách lỏng đạt dưới thấp. Bơm đặt thấp hơn bình tách lòng 1,5 ÷ 3m để đảm bảo cột lỏng cho bơm. Nhờ bơm tuần hoàn nên lỏng được phân phối đều cho các dàn. Để đề phòng cột lỏng quá nhỏ, hơi có thể sinh ra và lọt vào bơm làm gián đoạn hoạt động của bơm, ngưòi ta bố trí thiết bị tách hơi 8 trước bơm.

Ưu điểm của hệ thống có bơm tuần hoàn là:

  • Lỏng lưu động trong dàn với tốc độ lớn, tất cả bề mặt dàn được thấm ướt làm cho hiệu quả trao đổi nhiệt tăng;
  • Phân phối lỏng cho các dàn đồng đều hơn;
  • Giảm hiện tượng phan hơi và lỏng từ dàn khi tải nhiệt cúa dàn tăng đột ngột.

Nhược điểm là hệ thống có thêm bơm và phải tiêu tốn thêm năng lượng cho bơm.

Các sơ đồ hệ thống không dùng bơm

Hình a, b đã biểu diễn các sơ đổ không có bơm tuần hoàn, Các sư đồ này là tương đối đơn giản. Do những nhược điểm đã nêu chúng chỉ được ứng dụng hạn chế cho các kho lạnh dung tích đến 600t. Sau đây chúng tôi giới thiệu chi tiết hơn các sơ đồ đó.

Sơ đồ không bơm bình tách lỏng trên cao

Hình dưới mô tả sơ đồ cụm giàn lạnh, không bơm, cấp lỏng nhờ cột môi chất amoniăc.

Trong sơ đồ này, bình tách lỏng được đặt trên cao, các dàn lạnh đặt dưới thấp, hai bình chứa dự phòng đặt cuối cùng. Sơ đồ có bốn ống góp: góp hơi H, góp lỏng L, góp xả X và góp xả băng B để thực hiện chức năng làm lạnh và xả băng cho dàn.

Sơ đồ cụm giàn lạnh không bơm, môi chất amoniac, bình tách lỏng trên cao

Nguyên tắc làm việc như sau: Môi chất lỏng có áp suất cao từ bình chứa đến theo đường 1, đi qua van chặn, phin lọc, van điện từ, van tiết lưu TL vào bình tách lỏng TLg. Lỏng hạ áp đi theo đường II vào ống góp lỏng L để phân phối vào các nhánh cấp lỏng cho các dàn bay hơi. Việc cấp lỏng đều có tác động qua van điện từ. Sau khi vào dàn, lỏng hoá hơi và đi theo từng nhánh về ống góp hơi H, qua van 4, ống III để đi về bình tách lỏng. Hơi được tách ra đi về máy nén, còn lỏng quay trở lại các dàn bay hơi.

Để tránh cho máy nén khỏi bị va đập thuỷ lực trong trường hợp bình tách lỏng bị ngập lỏng, người ta bố trí đường chảy tràn IV về bình chứa dự phòng DP. Khi bình chứa trên đã đạt đến mức cao nhất cho phép, một thiết bị tự động xả khối lượng lỏng xuống bình dưới, sau đó được hơi nóng có áp suất cao ép đi ihco đường V trở lại van tiết lưu để vào binh tách lỏng.

Các dàn lạnh được phá băng bằng hơi nóng tách ra từ bình lách dầu của máy nén. Trước khi phá băng, lỏng trong dàn bay hơi được xả về bình chứa thu hồi. Tiến hành xả băng lần lượt cho các đàn lạnh bằng cách thao tác các van trên các ống góp. Khi xả băng phải liên tục quan sát và thao tác. Trước hết ngắt dàn lạnh định phá băng ra khỏi hệ thống bằng cách đóng van tương ứng của dàn trên ống góp hơi H và góp lỏng L. Sau đó mở van xả lỏng tương ứng trên ống góp xá lỏng X, và mở van 5. Tiếp theo mở van 6 và van tương ứng của dàn tương ứng trên ống góp xả van B. Bình chứa thu hổi đặt thấp hơn dàn lạnh để lỏng trong dàn chảy tự do vào bình chứa thu hồi. Bình chứa thu hồi đặt thấp hơn dàn lạnh để lỏng trong dàn chảy tự do vào bình chứa thu hồi. Hơi nóng theo đường 11h từ bình tách dầu đến sẽ toả nhiệt tàm tan lớp băng đóng trên ống, dàn lạnh. Sau khi xà băng xong, thực hiện các thao tác ngược lại để đưa dàn lạnh trở lại hoạt động bình thường: đóng van 6, đóng van 5, đóng các van tương ứng của dàn trên ống góp B và X, mở các van tương ứng của dàn trên ống góp L và H. Khi xả tuyết bằng hơi nóng, dầu và bẩn cùng đồng thời được rửa sạch khỏi bề mặt trong của ống.

Nhưng nhược điểm cơ bản của sơ đồ này là bình tách lỏng phải đặt trên cao, cao hơn tất cả các thiết bị khác.

Sơ đồ không bơm, bình tách lỏng dưới thấp

Trong những trường hợp kho lạnh nhiều tầng, việc đặt bình tách lỏng trên cao rất khó khăn. Để khắc phục, có thể chọn sơ đồ không bơm, bình tách lòng đặt dưới thấp.

Sơ đồ này gần giống sơ đồ bình tách lỏng trên cao. Khác biệt duy nhất là lỏng được tiết lưu trực tiếp vào các dàn. Van tiết lưu thường là loại van tiết lưu nhiệt để hạn chế lỏng ra khỏi dàn vào bình tách lỏng. Lỏng ở binh tách lỏng không quay lại các dàn lạnh mà toàn bộ lỏng ra ở đây theo ống chảy tràn chảy xuống bình dự phòng. Khi một trong hai bình dự phòng đầy đến mức quy định thì đóng van từ bình tách lỏng xuống và mở van hơi nóng áp suất cao để đẩy lỏng vào ống góp lỏng để qua các van tiết lưu trở lại các dàn lạnh. Khi một bình đang được ép lỏng quay vể dàn lạnh thì bình dự phòng còn lại làm nhiệm vụ nhận lỏng hạ áp chảy từ bình tách lỏng xuống. Hai bình thay đổi chức năng cho nhau khi bình kia đầy lỏng.

Sơ đồ cụm dàn lạn không bơm, bình tách lỏng dưới thấp

Do việc hạn chế lỏng từ dàn vào bình tách lỏng nên độ quá nhiệt hơi ra phải tương đối cao. Điều đó có nghĩa phần trên dàn phần lớn là hơi, nên hệ số trao đổi nhiệt của dàn lạnh theo sơ đổ này kém hơn sơ đổ bình tách lỏng trên cao. Hình dưới giới thiệu một sơ đồ hệ thống lạnh hoàn chỉnh không bơm, bình tách lỏng đặt dưới thấp với các thiết bị tự động.

Sơ đồ hệ thống lạnh không bơm, bình tách lỏng dưới thấp

Sơ đồ gồm ba máy nén một cấp, sử dụng cho một hệ thống dàn bay hơi một nhiệt độ. Môi chất lạnh lỏng được cấp vào dàn lạnh 1 từ bình chứa 16 qua thiết bị quá lạnh 18, ống góp lỏng 19, van chặn, phin lọc, van điện từ 3, van tiết lưu 20 nhờ độ chênh áp giữa bên ngưng tụ và bay hơi.

Hơi sinh ra trong dàn đi về bình tách lỏng 8 qua các van chặn, van điện từ 7, ống góp hơi H để về bình tách lỏng. Rơle nhiệt độ 2 kết hợp với van điện từ 3 thực hiện chức năng giữ nhiệt độ không đổi trong phòng lạnh và cấp lỏng cho dàn lạnh. Van điện từ chỉ mở ra cho lỏng vào dàn khi nhiệt độ không khí trong phòng cũng nhu nhiệt độ hơi quá nhiệt ở lối ra dàn lạnh tăng quá mức cho phép. Nhiệt độ không khí trong phòng được xác định bằng nhiệt kế điện trở 4 còn nhiệt độ hơi quá nhiệt độ bằng nhiệt kế điện trở 5 và 6. Van điện từ 7 luôn luồn mở đồng thời với van điện từ 3 để máy nén hút hơi từ dàn qua bình tách lỏng 8. Hơi quá nhiệt ra khỏi dàn hạn chế lượng lỏng cuốn theo hơi về bình tách lỏng.

Việc điều chỉnh có thể tiến hành qua nhiều rơle khác nhau: rơle nhiệt độ vi sai, xác định nhiệt độ đầu hút và rơle nhiệt độ, xác định nhiệt độ phòng, tác động lẽn một cơ cấu thừa hành, van điện từ – bố trí trên đường cấp lỏng vào dàn lạnh.

Để điều chỉnh sự cấp lỏng cho dàn phải sử dụng thiết bị điều chỉnh theo tỉ lệ độ quá nhiệt là van tiết lưu nhiệt, nhưng cả trong trường hợp này cũng cần phái có bộ điều chỉnh hai vị trí: van điện từ vì van tiết lưu nhiệt không đóng hết van.

Để đề phòng van điện từ bị trục trặc, lỏng có thể lọt vào máy nén, phá hỏng máy nén, người ta bố trí bình tách lỏng 8 cùng với binh chứa dự phòng 9. Trên bình tách lỏng và bình chứa dự phòng có trang bị rơle mức lóng bán dẫn 10 và 11 để báo hiệu khi có lỏng chảy vào bình chứa dự phòng là ngắt mạch máv nén nếu xuất hiện lỏng ở bình tách lỏng 8.

Nếu sử dụng hai bình chứa dự phòng thì có thể cho lỏng cháy vào bình chứa dự phòng, khi đó sử dụng các thiết bị tự động khác.

Hơi quá nhiệt đi qua binh tách lỏng 8 về máy nén 12, được nén lên áp suất cao và đẩy vào bình ngưng 15 qua bình tách dầu 13, van một chiều 14. Hơi cao áp thải nhiệt cho nước và ngưng tụ lại trong bình ngưng. Bình tách dầu được trang bị bộ điều chỉnh mức lỏng kiểu phao đảm bảo việc hồi dầu về cácte máy nén. Bình chứa cao áp 16 được trang bị mức lỏng kế 17 báo hiệu mức lỏng cao nhất và thấp nhất trong bình. Từ đây lỏng sẽ được cấp vào các dàn lạnh như đã giới thiệu.

Khi nhiệt tải trong phòng thay đổi, cần phải thay đổi năng suất lạnh của máy nén khi ngừng cấp lỏng cho một số dàn và một hoặc hai máy nén sẽ ngừng làm việc nhờ rơle áp suất 21 ngắt mạch. Giới hạn ngắt mạch cho mỗi máy nén có thể điều chỉnh khác nhau phù hợp với chế độ nhiệt yêu cầu trong buồng lạnh cũng như dự định chủ quan cần ngắt máy nào trước, máy nào sau. Van diện từ 22 dùng để giảm tải cho máy nén khi khởi động. Thời gian mở van điện từ 22 được một rơle thời gian điều khiển. Trong sơ đồ này, máy nén khởi động đồng thời với bơm nước 23 để cấp nuớc làm mát cho bình ngưng và áo nước làm mát đầu xilanh máy nén. Rơle áp suất 24 kiểm tra sự hoạt động của bơm. Khi khởi dộng máy, van điện từ 25 mở để cấp nước cho đầu máy nén, rơle dòng kiểu màng 26 ở vị trí nước ra bắt đầu hoạt động. Nếu sau một khoảng thời gian nhất định bơm nước không tạo được áp suất hoặc không tạo được dòng nước đủ mạnh làm mát áo nước đầu máy nén thì cơ cấu bảo vệ tác động ngắt mạch máy nén và bật tín hiệu âm thanh báo hỏng hóc.

Trong sơ đồ này mỗi máy nén được trang bị một bình tách dầu riêng. Bình tách dẫu được làm mát bằng nước. Nước sau khi qua đầu máy nén được đưa vào bình tách dầu, do đó rơle dòng được bố trí nên đường xả nước từ bình tách dầu ra.

Hệ thống bảo vệ máy nén gồm các rơle sau:

  • Rơle mức lỏng 11, lắp trên bình tách lỏng bảo vệ máy nén không bị va dập thuỷ lực;
  • Rơle dòng 26 đảm bảo máy nén chỉ làm việc khi có nước làm mát chảy qua áp lực;
  • Rơle áp suất dầu 27; bảo vệ máy nén khi mất bôi trơn;
  • Rơle nhiệt độ 28 bảo vệ máy nén khi nhiệt độ các chi tiết ma sát lên quá cao.
  • Rơlc áp suất cao 29 bảo vệ máy nén khi áp suất đầu đẩy vượt quá giới hạn cho trước.
  • Rơle nhiệt độ 30 bảo vệ máy nén khi nhiệt độ đầu đẩy vượt quá giới hạn cho phép.

Thông số kỹ thuật của các thiết bị bảo vệ xác định theo điều kiện làm việc cho phép của máy nén.

Việc phá băng bằng hơi nóng tiến hành giống như đã mô tả sơ đồ hình. Khi phá băng, lỏng được xả về bình chứa thu hồi 33 có trang bị mức lỏng kế báo hiệu 34. Trên đường xả lỏng có bố trí bộ điều chỉnh mức lỏng cao áp 35. Sau khi phá băng xong, dầu được xả về bình chứa dầu 36, còn lỏng được nén về ống góp 19 để đưa vào dàn lạnh.

Trên các thiết bị đều có bố trí van an toàn, áp kế, mức lỏng kế.

Có thể kiểm tra khả năng làm việc của các rơle mức lỏng 10, 11 và 34 trên bình tách lỏng, bình chứa dự phòng và bình chứa thu hồi bằng cách đóng van 38 và van 37 cho lỏng tràn vào. Nếu rơle mức lỏng không phản ứng chứng tỏ chúng đã hỏng cần được sửa chữa và thay thế.

Sơ đồ không bơm này có thể sử đụng cho cả hệ thống lạnh một hoặc hai cấp nén.

Các sơ đồ hệ thống có bơm

Sơ đồ hệ thống lạnh dùng bơm tuần hoàn mồi chất lạnh lỏng cho dàn bay hơi ngày nay được ứng dụng rất rộng rãi, đặc biệt đối với các kho lạnh lớn, làm lạnh trực liếp có nhiều dàn bay hơi. So với sơ đồ không bơm, sơ đồ này có thêm bình chứa tuần hoàn nhưng không có bình chứa dự phòng.

Sơ đồ hệ thống lạnh có thể chia ra một số loại sau:

  • Sơ đổ cấp lỏng từ dưới lên bình chứa tuần hoàn nằm ngang hoặc thẳng đứng;
  • Sơ đổ cấp lỏng từ trên xuống bình chứa tuần hoàn nằm ngang hoặc thẳng đứng;

Nếu chọn sơ đồ cấp lỏng lừ trên xuống, cần phải chú ý đến việc xả môi chất lỏng vể bình chứa tuần hoàn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với kho lạnh một tầng vì hầu như tất cả các thiết bị đều có độ cao như nhau. Vì vậy, đối với kho lạnh một tầng và tầng dưới của kho lạnh nhiều tầng không tiên sử dụng sơ đồ cấp lỏng từ trên xuống.

Khì sử dụng bình chứa tuần hoàn nằm ngang, cẩn phải có thêm bình tách lỏng, trong khi bình chứa tuần hoàn đặt đứng có thể đồng thời làm chức năng tách lỏng.

Sơ đồ có bơm cấp lỏng từ dưới lên

Hình dưới giới thiệu một sơ đồ có bơm cấp lỏng từ dưới lên, bình chứa tuần hoàn nằm ngang.

Sơ đồ có bơm cấp lỏng từ dưới lên bình chứa tuần hoàn nằm ngang

Lỏng từ trạm tiết lưu qua van điện từ, van tiết lưu tay vào bình tách lòng. Phần hơi hình thành sau tiết lưu được đưa về máy nén, phần lỏng được đưa xuống bình chứa tuần hoàn. Từ bình chứa tuần hoàn, lỏng được bơm đây vào ống góp lòng L để phân phối vào các dàn lạnh. Rơle nhiệt độ T kết hợp với van điện từ ĐT điểu khiến việc cấp lỏng cho các dàn tùy theo nhiệt độ yêu cầu trong buồng. Hơi sinh ra trong các đàn cùng với một phần lỏng cuốn theo đi về ống góp hơi H rồi về bình tách lỏng. Hơi được máy nén hút về. Lỏng rơi xuống phía dưới rồi chảy xuống bình chứa tuần hoàn để được bơm trở lại các dàn.

Khi xả băng cho một dàn nào đó, người ta phải đóng van chặn phía ống góp lỏng L và ống góp hơi H tương ứng của dàn, mở van phía ống góp xả lỏng X và xả băng B tương ứng. Hơi nóng từ bình tách dầu đi vào ống góp xả băng đế đẩy lòng theo đường X về bình chứa thu hồi. Hơi nóng toả nhiệt phá băng trên dàn. Mức lỏng ở bình chứa thu hồi có thể quan sát được nhờ mức lỏng kế M. Lỏng ở bình chứa thu hồi có thể được đưa về ống góp của trạm tiết lưu để đưa vào bình tách lỏng hoặc được đưa trực tiếp vào bơm tuần hoàn hoặc bình chứa tuần hoàn. Giữa bình chứa thu hồi và bình chứa tuần hoàn có ống cân bằng hơi.

Sơ đồ có bơm cấp lòng từ trên xuống, bình chứa tuần hoàn đặt đứng

Hình dưới giới thiệu một sơ đồ cấp lỏng từ trên xuống, bình chứa tuần hoàn đặt đứng. Lỏng từ trạm tiết lưu đến, qua van điện từ, van tiết lưu nhiệt, van chặn, được cấp trực tiếp vào bình chứạ tuần hoàn. Mức lỏng trong bình chứa tuần hoàn được điều chỉnh nhờ cụm van điệu từ và rơle mức lỏng bán dẫn ĐM. Từ bình chứa tuần hoàn, lỏng ở áp suất bay hơi được bơm tuần hoàn bơm lên cấp chơ các ống góp lỏng L. Từ đây, lỏng qua các van chặn, van ĐT vào ổng phân phối lỏng 4 đổ vào các dàn. Hơi tạo ra trong các dàn cuốn theo một ít lỏng qua ống góp hơi H quay lại bình chứa tuần hoàn. Bình chứa tuần hoàn đặt đứng nên đồng thời làm thêm chức năng bình tách lỏng. Lỏng rơi xuống phía dưới theo bơm trở lại dàn lạnh còn hơi được hút trở về máy nén theo đường phía trên, được nén lên áp cao và đẩy vào bình ngưng tụ.

SƠ đồ có bơm cấp lỏng từ trên xuống, bình chứa tuần hoàn đặt đứng

Van 1 mở cấp lỏng cho dàn trần và van 2 mở cấp lỏng cho dàn tường. Mồi phòng có một rơle nhiệt độ để duy trì nhiệt độ phòng bằng cách đóng ngắt van điện từ cấp lỏng cho dàn.

Để phân phối đều lỏng cho các dàn, người ta sử dụng ống phân phối lỏng. Lỏng vào theo ống giữa và được phân phối theo các ống nhánh hai bèn tới các dàn lạnh.

Ưu điểm của sơ đồ cấp lỏng từ trên xuống là:

  • Quán tính nhiệt nhỏ, dễ điều chỉnh nhiệt độ trong phòng;
  • Cột lỏng nhỏ, không ảnh hưởng đến nhiệt độ bay hơi;
  • Dầu bôi trơn và cặn bẩn được rửa dễ dàng khỏi bề mặt trao đổi nhiệt bên trong.

Khi sử dụng sơ đồ này cần lưu ý: đường hơi phải dốc vể phía bình chứa tuần hoàn vì hơi cuốn theo nhiều lỏng và lỏng phải chảy tự do vể bình chứa.

Có thể phá băng cho từng dàn lạnh. Khi phá băng, đóng van phía cấp lỏng từ Ống góp lỏng L và phía góp hơi H của dàn tương ứng, mở van ống góp xả băng B và ống góp xả lỏng X tương ứng. Hơi nóng đi vào dàn từ phía trcn xuống đẩy lỏng trong đàn vào bình chứa thu hồi. Lỏng trong bình chứa thu hồi sẽ dược bơm tuần hoàn bơm vào bình chứa tuần hoàn khi mở van 3. Sau khi phá băng xong, chuyển dàn về làm việc ờ chế độ bình thường bằng cách đóng mở các van theo thứ tự ngược lại.

VỊ trí lắp đặt bơm tuần hoàn trong sơ đồ là rất quan trọng. Mức lòng trong bình chứa tuần hoàn phải cao hơn miệng hút của bơm từ 1,5 – 3m tuỳ theo nhiệt độ bay hơi. Nhiệt độ càng thấp, chiều cao cột lỏng yêu cầu càng lớn.

Trong hệ thống lạnh có bơm, lượng lỏng cấp vào dàn lớn hơn nhiều lượng lỏng cần thiết để bay hơi thu nhiệt môi trường lạnh. Tỷ số giữa lượng lỏng cấp và lượng lỏng cần thiết gọi là bội số tuần hoàn. Cần phải chọn bơm có năng suất đạt bội số tuần hoàn 5 – 6 lần đối với phương pháp cấp lỏng từ dưới lên. Nếu cấp lỏng từ trên xuống, bội số tuần hoàn phụ thuộc vào chiều dài ống xoắn như sau:

Sơ đồ hệ thống lạnh cỡ lớn

Khi thiết kế, cần phải lưu ý rằng đường ống từ bình chứa tuần hoàn đến bơm phải có trở lực nhỏ nhất và trên đường ống đẩy phải bố trí van một chiều, tránh dồn lỏng amoniăc trở lại bình chứa tuần hoàn khi bơm ngừng hoạt động.

Sơ đồ có bơm có thể sử dụng cho máy lạnh một cấp hoặc hai cấp. Khi sử dụng sơ đồ này, sự giảm áp trong các thiết bị nhiệt độ thấp không ảnh hưởng tới sự phân công đồng đều môi chất lạnh lỏng vào các dàn lạnh bởi vì việc cấp lỏng thực hiện bằng bơm tuần hoàn.

Sơ đồ hoàn chỉnh hệ thống lạnh hai nhiệt độ có bơm tuần hoàn cấp lỏng từ dưới lên

 

Có thể sử dụng sơ đồ có bơm tuần hoàn cho kho lạnh nhiều chế độ nhiệt độ. Hình trên giới thiệu một sơ đồ hệ thống lạnh hoàn chỉnh hai nhiệt độ cấp lỏng từ dưới lên.

Để phục vụ cho nhiệt độ sôi -40°C người ta sử dụng hai máy nén MN1 (nén áp thấp) và MN2 (nén áp cao) với bình trung gian 10 có ống xoắn. Để phục vụ cho nhiệt độ sôi – 10°C, sử dụng một máy nén MN3. Đường đẩy của máy nén MN2 (cao áp) hợp với đường đẩy của MN3, qua van một chiều, qua bình tách dầu 4 vào bình ngưng 1. Hơi môi chất thải nhiệt cho nước làm mát, ngimg tụ rồi chảy xuống bình chứa 2 rồi được đến trạm tiết lưu 13 bằng hai đường.

  • Trực tiếp đến trạm tiết lưu (không được quá lạnh lỏng) để tiết lưu cho hệ thông bay hơi nhiệt độ cao -10°C.
  • Gián tiếp qua ống xoắn bình trung gian (được quá lạnh lỏng) để tiết lưu cho hệ thống dàn bay hơi nhiệt độ thấp -40°C. Mỗi hệ thống bay hơi có một bơm tuần hoàn và bình chứa tuần hoàn tiếng việt. Nguyên tắc hoạt động của việc cấp lạnh và phá băng tương tự như các sơ đồ đã khảo sát.

Sơ đồ hệ thống lạnh có bơm phối hợp giữa xả và hút
Để tách khí không ngưng, sơ đồ này sử dụng bình tách khí không ngưng tự động 9 ký hiệu AB-4. Trên các thiết bị đều bố trí các dụng cụ cần thiết như van an toàn, áp kế…

Hình trên giới thiệu một sơ đồ có bơm cấp lỏng từ dưới lên với đầy đú các thiết bị tự động; máy nén trục vít ở cấp thấp áp.

Từ bình chứa tuần hoàn 1 hơi được hút bằng máy nén trục vít cấp áp thấp 2, nén và đẩy vào bình tách dầu 3 rồi vào bình trung gian 4, được làm mát đến trạng thái bão hoà rồi được máy nén pittông cấp cao áp hút và nén lên, đẩy qua bình tách đầu 6, van một chiểu 7, vào bình ngưng 8 làm mát bằng nước. Máy nén trục vít có một loạt thiết bị phụ riêng đi kèm như hệ thống dầu gồm phin dầu, hình làm mát dầu, thiết bị sưởi dầu sơ bộ và các đường ống nối.

Lỏng ngưng tụ chảy vào bình chứa cao áp 9, qua ống phân phối 10 vào các dụng cụ và thiết bị một cấp (nhiệt độ cao) và vào bình trung gian của hệ thống hai cấp. Hình dưới chỉ biểu diễn sơ đổ hai cấp. Bình ngưng và bình chứa dùng chung cho cả hai cấp nhiệt độ.

Để đạt hiệu quả cao khi tiết lưu xuống nhiệt độ thấp, đầu tiên lỏng phải đi qua bình trung gian đc quá lạnh sau đó vào ống góp 11 để được tiết lưu vào bình chứa thu hồi 1. Mức lỏng trong bình trung gian và trong bình chứa tuần hoàn được điều chinh (duy trì ở mức không đổi) nhờ rơle mức lỏng bán dẫn kết hợp với van điện từ (12, 13 trên bình trung gian và 14, 15 trên bình chứa tuần hoàn). Cũng có thể sử dụng các dụng cụ điểu chỉnh mức lỏng khác. Trên bình chứa tuần hoàn còn trang bị một mức lỏng kế 16.

Trước các van điện từ đều lấp phin lọc 17. Van tiết lưu 18 đặt sau van điện từ.

Bơm 19 đẩy lỏng từ bmh 1 qua ống góp 20 vào dàn 21. Có thể cấp lỏng từ trên xuống như biểu diễn trên sơ đồ hoặc từ dưới lên. Nhiệt độ trong phòng được điều chỉnh nhờ rơle nhiệt độ 22 và van điện từ 23. Hơi cùng phần lỏng chưa kịp sôi qua ống góp hơi 25 về bình tách lỏng 26 và sau đó vào bình chứa tuần hoàn 1. Hơi dược hút về máy nén, còn lỏng được bơm cấp lại cho dàn.

Đối với hệ thống lạnh hai cấp có hai máy nén riêng biệt, thường máy nén cấp cao khởi động trước máy nén cấp thấp chừng 5 đến 7 giây. Có thể dùng rơle thời gian để điều khiển. Tuy nhiên ngày nay có những hệ thống lạnh hai cấp người ta khởi động theo trình tự ngược lại.

Trong sơ đồ sử dụng tổ chức máy nén hai cấp AD 130-7-4. Cấp thấp là máy nén trục vít, còn cấp cao là máy nén pittông. Máy nén này không có thiết bị giám tải khi khởi động.

Giảm tải cho cấp áp thấp bằng cách lần lượt ngất thiết bị giảm tải từ bình trung gian đến bình tách lỏng qua van điện từ 27. Chỉ được khởi động máy nén khi áp suất trong bình trung gian và hệ thống bay hơi chênh nhau không quá 0,1 MPa. Hiệu áp đó được kiểm tra bẳng rơle áp suất 28.

Bom nước 29 phải hoạt động đồng thời với máy nén để cấp nước cho áo nước máy nén và bình ngưng.

Bảo vệ máy nén áp thấp có: rơle áp suất thấp 30, rơle nhiệt độ đẩu đẩy 31, rơle áp suất dầu 32, rơle nhiệt độ dầu (quá thấp) 33. Bảo vệ máy nén áp cao có: rơle áp cao 34, rơle nhiệt độ đầu đẩy 35, rơle áp suất dầu 36. Van phao 37 dùng để xả dầu về cácte máy nén. Rơle mức lỏng 38 ở bình tách lỏng và 39 ở bình trung gian bảo vệ máy nén khỏi va đập thuỷ lực.

Theo quy tắc an toàn, phải lắp hai rơle cùng chức năng để bảo vệ máy nén khỏi va đập thuỷ lực. Phải kiểm tra định kỳ khả năng hoạt động của các rơle đó, ví dụ: Cấp lỏng thứ vào ống góp qua van 40 khi đóng van 41.

Trong các hệ thống nhiệt độ thấp, khi áp suất bay hơi nhỏ hơn áp suất khí quyển, không khí có khả năng rò lọt vào hệ thống. Đc xả khí ra ngoài người ta có thể sử dụng bình tách khí không ngưng tự động 59 (AB-4). Rơlc áp suất 43 và nước lỏng 44 có nhiệm vụ kiểm tra sự làm việc của bơm amoniắc 19.

Rơle áp suất 45 kiểm tra sự làm việc của bơm nước 29.

Sư đồ này cũng dùng hơi nóng để phá băng như đã trình bày ở các sơ đồ trên. Khi bình chứa thu hồi đã đạt mức lỏng quy định, rơle mức lòng 53 cho tín hiệu đóng các van điện từ 49 và 50, mở các van điện từ 55 và 56. Khi mở van 55, lòng được nén lừ bình chứa thu hồi vào ống phân phối nhờ hơi áp cao. Khi mức lỏng ở bình chứa thu hổi giảm đến mức quy định, rơle mức lỏng 54 cho tín hiệu chuyến mạch của các van điện từ 49, 50, 55, 56.

Trong sơ đồ có bố trí van an toàn 57 để xả môi chất từ các dàn lạnh vào bình chứa tuần hoàn trong trường hợp áp suất ở dàn tăng. Van an toàn 57 bố trí trong các sơ đồ nếu các sơ đồ đó có các van điện từ lắp trên đường hút của bơm. Trên các bình và các thiết bị, tuỳ theo yêu cầu còn bố trí thêm các thiết bị đo kiểm và các van an toàn.

Máy nén khởi động theo tín hiệu rơle nhiệt độ 58 bố trí trên đường hút của bơm amoniăc 19. Số lượng rơle lắp đặt phụ thuộc vào hệ thống điều chỉnh đã chọn.

Sơ đồ dùng chất tải lạnh

So với sơ đồ trực tiếp, sơ đồ dùng chất tải lạnh có thêm bình bay hơi làm lạnh chất tải lạnh lỏng, bơm tuần hoàn và dàn lạnh dùng chất tải lạnh lỏng.

Chất tải lạnh chủ yếu gồm:

  • Nước: Cho nhiệt độ sôi đến 5°C dùng cho các hệ thống điều hoà trung tâm, các kho lạnh rau quả…
  • Nước muối NaCl cho nhiệt độ sôi đến -18°C (nhiệt độ cùng tinh – 21,2°C ở nồng độ 23,1%) dùng cho các bể đá hoặc các phòng lạnh, kho lạnh.
  • Nước muối CaCl2 cho nhiệt độ sôi đến – 50°C (nhiệt độ cùng tinh – 55°C ở nồng độ 29,9%).
  • Các loại rượu và glycol, glycerin với hàm lượng nước lớn nhất có thể dược.

Sơ đồ hệ thống lạnh cỡ lớn Amoniắc
Hệ thống chất tải lạnh (nước muối) được phân ra hệ thống kín và hệ thống hở. Hệ thống kín là chất tải lạnh không tiếp xúc với không khí bên ngoài và hệ thống hở là chất tải lạnh có bề mặt tiếp xúc với không khí bên ngoài.Hiện nay glycol và rượu êtanol đang được sử dụng rộng rãi để gia lạnh cho các bồn lên men tự hành sản xuất bia.

Sơ đồ hệ thống nước muối hở

Ưu điểm là đơn giản; nhược điểm là độ ăn mòn thiết bị lớn; hơi nước đọng vào nước muối lạnh, nhanh chóng làm loãng nên phải định kỳ bổ sung muối. Đối với các chất tải lạnh dễ bay hơi như cồn rượu… dễ tổn thất chất tải lạnh do bay hơi, đặc biệt khi máy lạnh ngừng hoạt động.

Sơ đồ hệ thống nước muối hở

Hình trên mô tả sơ đổ nguyên lý hệ thống lạnh nước muối hở. Nước muối được làm lạnh tròng bể nhờ dàn bay hơi 5. Nước muối lạnh được bơm 7 bơm lên cấp vào các dàn lạnh từ dưới lên. Đi qua các dàn lạnh, nước muối thu nhiệt của môi trường cần làm lạnh, nóng lên và được đẩy trở lại bể qua ống góp 2. Tất cả các đàn đều bố trí van xả khí ở phía trên. Đầu ống hổi phải cho ngập xuống dưới mặt thoáng để tránh hạn chế việc sục không khí vào nước muối, gây ăn mòn.

Nước muối được cấp vào dàn từ dưới lên để vị trí lắp đặt (chiều cao) của dàn và bể nước muối không phụ thuộc vào nhau.

Ưu điểm của hệ thống là không cần bình dãn nở, cấu tạo vận hành đơn giản. Cần giảm bề mặt tiếp xúc với không khí xuống càng thấp  càng tốt, và cũng cần chú ý đến việc cấp nước muối đồng đều cho các dàn.

Sơ đồ hệ thống nước muối kín

Sơ đồ hệ thống nước muối kín biểu diễn trên hình dưới. Hệ thống nước muối kín được chia làm hai loại: loại ba ống và loại hai ống.

Sơ đồ hệ thống nước muối kín

 

Hình a biểu diễn sơ đồ toại ba ống: I – ống cấp; II – ống hồi; III – ống bù hay ống điểu hoà. Bơm 7 bơm nước muối qua bình bay hơi ống chùm 5 để làm lạnh, đẩy vào ống I để cấp cha các dàn mắc song song. Khi qua dàn, nước muối thu nhiệl của môi trường nóng lên và được đẩy vào ống hồi II sau đó theo ống bù III đe về bơm. Sơ đồ ba ống có ưu điểm chính:

Chiều cao nước muối của các dàn đều bằng nhau vì ống II quay lên trên đến điểm cao nhất, mới theo ống III đi xuống (không giống như cách bố trí trên hình sơ đồ hệ thống nước muối kín), do đó việc cấp lỏng cho các dàn là đồng đều vì trở lực đường ống gần như đồng đều, phù hợp với kho lạnh nhiều tầng. Bình dãn nở để bù nước muối khi giảm thể tích ở nhiệt độ lạnh. Khi dừng máy nhiệt độ tăng, nước muối nở ra, thể tích dư được đẩy vào bình dãn nở 3, nếu quá đầy, nước muối sẽ chảy về bể chứa theo đường xả tràn 4. Van 1 dùng để cấp nước muối bổ sung cho hệ thống trường hợp thiếu nước muối. Khi đó chỉ cần khoá van 2, mở van 1 và bơm bổ sung đến khi nước muối tràn ra theo đường xả trần.

Ưu điểm của hệ thống là tiêu tốn năng lượng cho bơm nhỏ, thiết bị ít bị ăn mòn hơn, nước muối không bị giảm nồng độ do hơi nước ngưng đọng vào, dễ xả khí. Các thiết bị của hệ thống kín không cần đặt vào phòng riêng mà có thể đặt trực tiếp trong phòng máy vì chúng không gây ảnh hưởng xấu đến các máy và thiết bị khác.

Ngày nay, trong một vài kho lạnh còn sử dụng hệ thống kín hai ống: ống I là ống phân phối và ống II là ống hồi với hai ống góp phân phối 9 và ống góp hổi 8. Nhược điểm của hệ thống là phân phối nước muối khó đồng đều hơn nên chỉ sử dụng cho các trường hợp các ống từ bình bay hơi đến các ống góp và các dàn không quá khác biệt.

Thể tích bình dãn nở được xác định theo biểu thức

vdn = V. β . Δt, m3

  • V – Thể tích dung dịch nước muối tuong hệ thống, m3
  • β – Hệ số dãn nở thể tích do nhiệt độ = 0,0006, 1/K
  • Δt – Khả năng thay đổi nhiệt độ lớn nhất khi vận hành, K.

Cần bố trí các van xả không khí cho các dàn, nắp đậy và lỗ thông khí, ống xả tràn cho bình dãn nở.

Sơ đồ phá băng của các dàn lạnh nước muối

Để phá băng cho các dàn nước muối, tốt nhất người ta sử dụng nước muối nóng từ 30 – 40°C.

Ở chế độ làm việc bình thường, nước muối lạnh vào góp ống L phân phối cho các dàn rồi trở về ống góp H để quay lại bơm nước muối lạnh.

Để phá bãng tiến hành như sau: ví dụ phá băng cho dàn N1. Trước hết, cần xả hết nước muối lạnh về thùng chứa A, sau đó tuần hoàn nước muối nóng qua dàn và bình đun nước. Trước khi phá băng, nước muối nóng ở thùng C phải được đưa lên đến nhiệt độ yêu cầu nhờ cấp hơi nóng cho bình 16, mở các van 8, 10, 7, 5 và 11. đóng van 6 và 9 và cho bơm 15 chạy. Khi đạt nhiệt độ yêu cầu, tiến hành bơm nước muối vào dàn từ trên xuống đồng thời xả nước muối lạnh về thùng chứa A bằng cách đóng van 10, 8, mở van 3, đóng van 1, 2, mở van 4. 14, bơm 15 hoạt động. Trước van 14 có nhiệt kế để đo nhiệt độ nước muối tm mục đích để xác định thời điểm xả nước muối lạnh đã kết thúc hay chưa. Khi thấy nhiệt độ tăng, đóng ngay van 14, mở van 12 và 9. Như vậy nước muối sẽ tuần hoàn từ dàn đến bình đun nước cho đến khi toàn bộ băng bám trên dàn bị tan hết. Tương tự tiến hành phá bãng cho dàn N2 và các dàn khác.

Sau khi xả băng, đóng các van 9, 5, 7, mở van 13, 6, 10, bơm sẽ hút nước muối ở thùng A đẩy vào dàn lạnh, nước muối nóng sẽ bị đẩy qua van 4, 12, 10 vào thùng nước muối nóng.

Ở đây cũng bố trí nhiệt kế đo nhiệt độ nước muối nóng ts xác định xem nước muối nóng đã chảy hết ra chưa. Khi nước muối nóng chảy ra hết, đóng ngay van 3 và 4, mở van 1 và 2 cho dàn trở lại chế độ làm việc bình thường.

Sơ đồ phá băng dàn lạnh nước muối