Căn cứ thiết kế

Hệ thống chữa cháy bằng N2 thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:

  • Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7161-1:2002; ISO 14520-1:2000 (Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống).
  • Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7161-13:2002; ISO 14520-13:2000 (Hệ thống chữa cháy bằng khí – tính chất vật lý và thiết kế hệ thống) – Phần 13: Chất chữa cháy IG -100 (N2).
  • Tiêu chuẩn NFPA2001 của Hiệp hội phòng cháy quốc gia Mỹ “ Tiêu chuẩn áp dụng cho việc lắp đặt hệ thống chữa cháy bằng khí sạch.
  • Chứng chỉ đánh giá chất lượng VdS của Châu Âu “ đánh giá chất lượng của hệ thống”.

Những yêu cầu kỹ thuật đối với hệ thống chữa cháy khí N2

Trang thiết bị chữa cháy của công trình phải đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Trang thiết bị chữa cháy phải sẵn sàng ở chế độ thường trực, khi xảy ra cháy phải được dập tắt ngay.
  • Thiết bị chữa cháy phải là loại phù hợp và chữa cháy có hiệu quả đối với các đám cháy có thể xảy ra trong công trình.
  • Thiết bị chữa cháy trang bị cho công trình phải là loại dễ sử dụng, phù hợp với công trình và điều kiện nước ta.
  • Thiết bị chữa cháy phải là loại chữa cháy không làm hư hỏng các dụng cụ, thiết bị, dữ liệu khác tại các khu vực chữa cháy.
  • Trang thiết bị hệ thống PCCC được trang bị phải đảm bảo hoạt động lâu dài, hiện đại.
  • Trang thiết bị phải đạt được các tiêu chuẩn của Mỹ, Châu Âu cũng như các tiêu chuẩn của Việt Nam.

Nguyên lý làm việc

Hệ thống chữa cháy khí N2  được sử dụng cho trình được thiết kế theo nguyên lý van chọn vùng. Việc tính toán và lựa chọn số lượng bình để phục vụ chữa cháy được xác định theo khu vực chữa cháy lớn nhất.

Các khu vực nhỏ được tính toán để xác định chính xác số lượng bình cần thiết cho vực đó để tránh hiện tượng xả thừa khi chữa cháy. Trên cơ sở đó để bố trí van chọn vùng và van kích hoạt hệ thống điều khiển xả đúng số bình cần thiết cho khu vực đó.

Hệ thống xả khí được thực hiện hoàn toàn tự động. Toàn bộ hệ thống được điều khiển và giám sát từ Module điều khiển chữa cháy của khu vực đó. Về nguyên tắc xả khí ở chế độ tự động phải được nhận tín hiệu từ hai đầu báo cháy trên hai kênh khác nhau và phải đảm bảo nguyên tắc:

  • Khi một đầu báo làm việc: trung tâm sẽ địa chỉ báo động và phát tín hiệu báo động bằng đèn, chuông khu vực bảo vệ thông qua Module điều khiển chữa cháy.
  • Khi cả hai đầu báo trong một vùng làm việc: Trung tâm sẽ ra lệnh xả khí bằng còi, thời gian ra lệnh xả khí cho phép cài đặt từ 0 – 3 phút thông qua Module điều khiển chữa cháy. Khi xả khí trung tâm sẽ thông báo bằng còi, đèn báo xả khí để tránh mọi người không vào khu vực đang xả khí thông qua Module điều khiển chữa cháy.. Ngoài ra chúng ta cũng có thể chủ động xả khí bằng tay bằng cách ấn nút xả khí hoặc cần tại đầu bình.

Với việc chữa cháy bằng khí N2 và được thực hiện trên nguyên tắc trên thì sẽ hoàn toàn không ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người.

Tủ địa chỉ điều khiển xả khí

Tủ chữa cháy địa chỉ chuyên dụng, nó có khả năng giám sát và điều khiển các hệ thống chữa cháy như hệ thống N2. Module được tích hợp các cổng I/O để kết nối với nút xả khẩn cấp, nút dừng khẩn cấp, nút tạm ngừng để bảo trì hệ thống, chuông báo tiền chữa cháy, chuông báo chữa cháy, và kết nối với trung tâm báo cháy tòa nhà.

Còi đèn báo xả khí

Để kịp thời thông báo cho những người bên trong nhanh chóng thoát ra ngoài và những người bên ngoài không được vào vùng xả khí. Bộ còi, đèn thông báo xả khí thường được bố trí ngay trước cửa ra vào phòng.

Nút ấn xả khí bằng tay

Trong trường hợp phát hiện ra đám cháy người ta có thể ấn nút xả khí khẩn cấp, khi đó tín hiệu sẽ được chuyển về trung tâm, trung tâm chữa cháy sẽ phát lệnh xả khí.

Bộ phận phân bố chất chữa cháy và vòi phun

Chất chữa cháy (khí N2) được phân bố đến các khu vực nhờ hệ van chọn lựa xả khí (bình hoa tiêu Pilot cylinder). Đây là hệ thống các van hoa tiêu điều khiển kích hoạt theo vùng, số van chọn lựa xả khí bằng số vùng cần chữa cháy. Khi bình này được kích hoạt khí trong bình sẽ được cấp vào đường ống một phần sẽ được dẫn qua ống mền kích hoạt bình còn lại (Slave Cylinder)

Các bình được cố định vào giá đỡ cố định vào tường, bên trên toàn bộ các bình được cấp vào ống góp (Mainfold) trước khi cấp vào ống góp mỗi bình đều phải có van một chiều tránh trường hợp khí quay trở lại bình đã xả.

Đầu phun khí có nhiệm vụ phân phối đều lượng khí trên toàn bộ khu vực cần bảo vệ.

Bộ phận đường ống

Từ các bình cất giữ khí N2, khí được cấp vào ống góp dẫn đến các khu vực cần chữa cháy bằng ống dẫn khí. Đường ống dẫn khí N2 cần phải kín, chịu áp suất cao dẫn khí đến các vòi phun xả khí. Đường ống có thể sử dụng ống thép đúc tiêu chuẩn SCH40.

Đường ống sau khi lắp đặt hoàn thiện trước khi lắp đặt thiết bị phải tiến hành thử áp lực.  Áp lực thử có giá trị bằng 1,5 lần áp lực làm việc lớn nhất của hệ thống. Độ sụt áp trên đường ống không lớn hơn 5% so với áp lực thử sau 5 phút chịu áp, không bơm thêm nước vào trong đường ống.

Ống cấp nước chữa cháy đi nổi trên màu sắc lớp sơn hoàn thiện phải là màu đỏ cứu hỏa và phải được sơn ít nhất 3 lớp.

Trước khi sơn phải được làm sạch hết dầu, mỡ, bụi và hầu hết vảy thép, gỉ, sơn, các tạp chất lạ, chất nhiễm bẩn còn lại bám dính rất chặt với bề mặt thép.

Tính toán chi tiết và lựa chọn

Cơ sở tính toán thiết kế:

  • Căn cứ Bảng 3 TCVN 7161-13:2002:Lượng chất chữa cháy toàn bộ IG-100.
  • Áp dụng công thức : Q=V*(Sr/S)*Ln(100 / (100-C))

Trong đó:

  • Q: Là số lượng chất chữa cháy N2 cần thiết để chữa cháy cho phòng.
  • V= L*R*C: là khối tích rỗng trong phòng.
  • Sr: Là thể tích hơi riêng ở nhiệt độ nạp chuẩn (15 0C=0,8508 m3/kg).
  • S: Là thể tích riêng chất chữa cháy quy định ở 200C =0,8583 m3/kg.
  • C: là nồng độ 41.5% đã bao gồm hệ số an toàn 1.3 (được dùng để tính toán cho tất cả các phòng).

 

Bạn có muốn nhận bộ tài liệu “16 Tiêu chuẩn Phòng Cháy Chữa Cháy mới nhất dành cho Kỹ Sư M&E” do VNK sưu tầm ?
=> Tải ngay

Đặt câu hỏi hoặc để lại bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of