Công tơ điện là công cụ đo lường lượng điện năng để làm cơ sở thanh toán giữa bên mua và bán điện. Và cấp  chính xác ảnh hưởng đến độ chính xác của công tơ điện. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến cấp chính xác của công tơ điện. Các loại sai số và nguyên nhân gây ra.

Cấp chính xác của công tơ điện là sự sai lệch nhiều nhất chỉ số của công tơ so với lượng điện năng tiêu thụ thực tế tính theo công tơ mẫu % (tính theo phần trăm).

Thí dụ:

  • Công tơ điện 1 pha có cấp chính xác là 2 có nghĩa là sự sai lệch nhiều nhất chỉ số của công tơ so với lượng điện năng tiêu thụ thực tế là ±2%.
  • Công tơ điện 3 pha có cấp chính xác là 1 có nghĩa là sự sai lệch nhiều nhất chỉ số của công tơ so với lượng điện năng tiêu thụ thực tế là ±1%.

Có 2 loại sai số:

1- Sai số cơ bản cho phép: Là sai số của công tơ sau khi hiệu chỉnh xong trong điều kiện tiêu chuẩn: Điện áp, tần số, nhiệt độ môi trường….

2- Sai số phi tiêu chuẩn: Là những sai số xuất hiện thêm, nằm ngoài phạm vi sai số cho phép sau khi đã đưa công tơ vào sử dụng, cụ thể là:

  • Sai số do nhiệt độ môi trường thay đổi: Quy định nhiệt độ vận hành tiêu chuẩn là 20°C, khi nhiệt độ môi trường thay đổi, sai số cơ bản của công tơ sẽ thay đổi theo quy luật phi tuyến nghĩa là càng xa nhiệt độ vận hành tiêu chuẩn thì sai số càng biến đổi mạnh. Nếu nhiệt độ tăng lên 10°C thì tốc độ đĩa quay sẽ tăng lên từ 0,1% dến 7%. Sai số do nhiệt độ môi trường không thể kiểm soát được.
  • Sai số do điện áp biến động: Sai số ±2% được tính với điện áp 220/380V, nếu điện áp biến động ±10% thì xuất hiện sai số phụ là ±7%. Sai số theo điện áp phụ thuộc vào trị số cos φ, công nghệ chế tạo của nhà sản xuất (chất lượng mạch từ, cách dấu dây, cách quấn dây…).
  • Sai số do tần số nguồn điện thay đổi: Sai số cơ bản cho phép được tính với tần số nguồn diện là 50Hz. Đối với động cơ điện , khi tần số tăng lên thì tốc độ quay tăng lên. Nhưng với công tơ điện thì ngược lại, tốc độ quay của đĩa nhôm lại giảm đi. Cụ thể nếu tần số của hệ thống điện (f) tăng lên 5% thì tốc độ quay của đĩa nhôm giảm đi từ 0,3%, đến 5%. Với hệ thống điện có chất lượng tốt thì tần số luôn ổn định là f = 50Hz.
  • Sai số do dòng điện tiêu thụ thay đổi: Sai số cơ bản cho phép được tính với dòng điện dịnh mức IZđm = 5 A (1A, 10A), tuỳ theo loại công tơ.
    • Nếu dòng điện tiêu thụ nhỏ I≤ 5% IZđm sai số thường dương.
    • Nếu dòng điện tiêu thụ nhỏ Iz ≈ 5% IZđm sai số thường âm.
    • Nếu công tơ quá tải Iz > IZđm sai số thường rất âm.

Điều này rất có lợi cho người dùng điện nhưng nếu quá tải công tơ rất dễ bị cháy.

  • Sai số do mạt sắt: Khi hiệu chỉnh công tơ nếu không chú ý đến việc khử mạt sắt (còn gọi là râu từ) trong khe hở từ của nam châm điện sẽ dẫn đến tình trạng các “râu từ” này rơi rụng ra trong quá trình di chuyển gây ra sai số dương, làm cho công tơ chạy nhanh lên.
  • Sai số do thời gian vận hành lâu năm: Chu kỳ làm việc của công tơ từ 4 năm đến 12 năm, với công tơ có chất lượng kém thì chu kỳ làm việc sẽ rút ngắn hơn, nếu tiếp tục vận hành sẽ gây ra sai số.
    • Sai số dương: Thường do nam châm của công tơ bị mất từ tính hoặc bị nhụt từ tính.
    • Sai số âm: Do ma sát tại các điểm gối trục, ổ đỡ đĩa quay công tơ (nguyên nhân do khô dầu, mẻ mòn chân kính của ổ trục quay, đĩa nhôm mòn rỉ sước). Càng vận hành lâu càng có lợi cho người dùng điện.

Các hiện tượng rò điện do cáp của đường dây sau công tơ có cách điện kém, ghi chỉ số sai, lấy cắp điện công tơ, v…v nằm trong phạm vi trách nhiệm của nhân viên vận hành và của người dùng điện không tính trong phạm vi sai số của công tơ.


VNK gửi tặng bạn cuốn sách “gối đầu giường” dành cho dân điện-điện tử.
Tải ngay: 1500 Câu hỏi về điện