Khi áp lực của đường ống cấp nước bên ngoài không đảm bảo thường xuyên thì hệ thống cấp nước bên trong nhà cần có két nước. Két nước có nhiệm vụ điều hòa nước, tức là dự trữ nước khi thừa và cung cấp nước khi thiếu đồng thời tạo áp lực để đưa nước tới các nơi tiêu dùng. Ngoài ra két nước còn phải dự trữ một phần lượng nước chữa cháy trong nhà.

Xác định dung tích và chiều cao đặt két nước

Xác định dung tích két nước

Dung tích toàn phần của két nước xác định theo công thức sau:

Trong đó:

  • Wđh – dung tích điều hòa của két nước, m3;
  • Wcc – dung tích nước chữa cháy (nếu có) lấy bằng lượng nước chữa cháy trong 10 phút khi vận hành bằng tay và 5 phút khi vận hành tự động.
  • K – hệ số dự trữ kể đến chiều cao xây dựng và phần cặn lắng ở đáy két nước, K = 1,2 ÷ 1,3.

Dung tích điều hòa Wđh có thể xác định như sau:

  • Khi không dùng máy bơm: Wđh, là tổng lượng nước tiêu thụ trong những giờ cao điểm (lúc áp lực bên ngoài không đủ). Muốn xác định cần phải biết chế độ tiêu thụ nước cho ngôi nhà đó. Khi không có số liệu đầy đủ có thể lấy 50 – 80% lưu lượng nước ngày đêm Qngđ.
  • Khi dùng máy bơm: theo kinh nghiệm Wđh không được nhỏ hơn 5% lưu lượng nước ngày đêm Qngđ, tính cho ngôi nhà khi máy bơm mở tự động. Còn khi máy bơm mở tay Wđh = (20 ÷ 30%)Qngđ. Trong các ngôi nhà nhỏ, lượng nước dùng ít, cho phép = (50 ÷ 100%)Qngđ.
  • Theo chế độ mở máy bơm: áp dụng cho máy bơm đóng mở tự động theo công thức sau:

Trong đó

  • Qb – công suất máy bơm, m3/h;
  • n – số lần mở máy bơm trong một giờ (2 – 4 lần).

Dung tích két nước không nên lớn quá 20 – 25 m3, vì nếu lớn quá sẽ làm tăng tải trọng của ngôi nhà, ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà. Khi dung tích két quá lớn có thể chia làm nhiều két bố trí ở nhiều khu vệ sinh trong nhà.

Chiều cao đặt két nước

Chiều cao đặt két nước được xác định trên cơ sở bảo đảm áp lực để đưa nước và tạo ra áp lực tự do đủ ở thiết bị vệ sinh bất lợi nhất trong trường hợp dùng nước lớn nhất.

Như vậy két nước phải có đáy đặt cao hơn thiết bị vệ sinh bất lợi nhất một khoảng bằng tổng áp lực tự do ở thiết bị vệ sinh bất lợi nhất và tổn thất áp lực từ két đến thiết bị vệ sinh bất lợi nhất (theo đường ống).

Trong các ngôi nhà ở và công cộng người ta thường đặt két nước ngay trên mái nhà hoặc đặt trong hầm mái. Như vậy áp lực tự do và lưu lượng nước ở các thiết bị vệ sinh ở trên sẽ bé hơn ở các thiết bị vệ sinh tầng dưới.

Ở các nhà công cộng đặc biệt khi yêu cầu đảm bảo đủ áp lực tự do ở thiết bị vệ sinh tầng trên cùng cần phải đặt két ở đúng vị trí thiết kế có thể cao hơn mái nhà. Tuy nhiên nếu đặt két nước cao quá sẽ không có lợi về kết cấu cũng như mỹ quan, kiến trúc của ngôi nhà. Khi đó có thể chọn đường kính ống dẫn nước lớn hơn.

Trường hợp khi đường ống chính bố trí ở phía dưới nhà người ta thường thiết kế đường ống nước lên xuống két có đường kính đồng nhất từ trên xuống dưới, tính toán trên cơ sở vận chuyển được lưu lượng nước tính toán lớn nhất.

Bố trí và cấu tạo két nước

Trên mặt bằng, két nước có thể có dạng hình chữ nhật, hình vuông, hình tròn,… Két nước có thể đặt ở trên mái nhà, ở hầm mái, ở lồng cầu thang, ở nóc khu vệ sinh.

  • Bố trí ở lồng cầu thang: có lợi về chiều cao, tận dụng được kết cấu của nhà nhưng tốn đường ống (xa khu vệ sinh) không kinh tế, tổn thất áp lực lớn.
  • Bố trí ngay trên nóc khu vệ sinh: tiết kiệm đường ống, tổn thất áp lực giảm. Trường hợp nếu két nước bị rò rỉ thì không ảnh hưởng lắm đến sinh hoạt cũng như mỹ quan ngôi nhà.

Két nước có thể xây bằng gạch, bêtông cốt thép hoặc thép (thép tấm dày 7 mm hàn lại).

Dùng thép tấm thì nhẹ dễ lắp ráp nhưng đắt, dễ bị ăn mòn và bị gỉ. Khi đó cần phải sơn cẩn thận hai mặt trong và ngoài, lớp sơn bên trong phải theo đúng các yêu cầu về kỹ thuật vệ sinh.

Dùng gạch – bêtông cần có biện pháp chống rò rỉ nước qua thành và đáy két nước. Khi đó có thể láng màu vữa xi măng hoặc trát vữa xi măng có trộn bột chống ẩm, chống thấm. Chỗ ống qua tường bêtông phải làm lá chắn (vành đai) bằng thép hàn vào ống để tránh rò rỉ.

Két nước có thể gắn liền với kết cấu mái hoặc đặt trên sàn đỡ bằng gỗ, bêtông hoặc các cột đỡ nếu quá cao. Khoảng cách giữa các két nước, giữa thành két với các kết cấu của nhà 0,7 – 1,0 m.

Két nước được trang bị các loại ống dưới đây (h.19.8)

  • Đường ống dẫn nước lên két có thể là một hoặc chia làm nhiều đường ống. Trên đường ống có bố trí khóa và van phao hình cầu, thường đặt cách đỉnh két 100 – 200 mm.
  • Ống dẫn nước ra khỏi két có thể chung hoặc riêng với đường dẫn nước lên két. Trong trường hợp đường lên két và từ két xuống chung làm một thì trên đường nối giữa hai ống lên và xuống có bố trí van một chiều để nước không vào từ đáy két, tránh xáo trộn cặn trong két, ống dẫn nước ra khỏi két thường đặt cách đáy két 100 mm.

  • Ống tràn dùng để xả nước đi để đề phòng khi van phao hình cầu hỏng làm tung nắp két hoặc nước chảy lênh láng ra mái nhà, thường đặt cao hơn mức nước trong két 50 mm, đường kính ống tràn bằng 1,5 – 2 lần đường kính ống lên két, phễu tràn phải lớn gấp 2 – 4 lần đường kính ống dẫn nước lên, ống tràn được nối với ống thoát nước.
  • Ống xả cặn có đường kính 40 – 50 mm đặt ở chỗ thấp nhất của đáy két để xả cặn lắng, rong rêu khi thau rửa két, v.v… và thường nối với ống tràn. Trên ống xả cặn có bố trí van đóng mở khi cần thiết.
  • Thước đo hay tín hiệu chỉ mức nước trong két hoặc ống tín hiệu nối từ ống tràn đến chậu rửa của phòng thường trực trạm bơm để biết khi nào nước đầy quá thì ngắt máy bơm (mở tay) hoặc đóng khóa lại.

Bạn có muốn nhận 9 tiêu chuẩn quan trọng, 1 video hướng dẫn tổng quan 5 bước thiết kế và 2 bài viết rất đầy đủ chi tiết về hệ thống cấp thoát nước ???

Đăng ký ngay

Đặt câu hỏi hoặc để lại bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of