Điều tiết nước

  • Để nhà máy thủy điện tham gia vào phủ biểu đồ phụ tải của hệ thống điện một cách tối ưu, việc khai thác nguồn nước cho nhà máy thủy điện phải đảm bảo sử dụng tối đa năng lượng dòng chảy cũng như công suất đặt của tổ máy thủy lực
    • Đồng thời cần phải tính đến yêu cầu về nước của các ngành kinh tế quốc dân khác (giao thông thủy, thủy lợi, thủy sản, cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp) và các điều kiện bảo vệ môi trường.
    • Đối với từng nhà máy thủy điện có hồ chứa điều tiết dòng chảy cần phải lập quy định sử dụng nguồn nước hồ chứa cho từng thời kỳ và phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt
  • Đối với mỗi nhà máy thủy điện cần lập kế hoạch sử dụng nước hàng năm. Kế hoạch này quy định trị số lưu lượng và cột nước làm việc hàng tháng. Kế hoạch sử dụng nước sẽ được điều chỉnh hàng quý, hàng tháng trên cơ sở dự báo thủy văn và điều kiện làm việc của nhà máy thủy điện
    • Trong trường hợp hệ thống năng lượng có một vài nhà máy thủy điện hoặc bậc thang thủy điện, việc điều chỉnh dòng chảy phải thực hiện sao cho thu được hiệu quả tổng năng lượng tối đa (quy ra nhiên liệu) mà vẫn thỏa mãn các nhu cầu của các hộ dùng nước khác.
  • Chế độ tháo nước và tích nước của hồ chứa phải đảm bảo:
    • Tích hồ chứa tới cao trình mức nước dâng bình thường, dao động ngoài mức quy định trên chỉ cho phép trong trường hợp có yêu cầu đặc biệt của tổ hợp sử dụng nước và đối với hồ điều tiết nhiều năm.
    • Các điều kiện thuận lợi để xả nước thừa và bùn cát qua công trình
    • Các điều kiện cần thiết cho giao thông thủy, thủy sản, tưới và cung cấp nước
    • Hiệu ích năng lượng lớn nhất (quy ra nhiên liệu) cho toàn hệ thống năng lượng và thỏa mãn các yêu cầu sử dụng nước đã được thông nhất cho các ngành kinh tế khác.
    • Điểu chỉnh được lưu lượng xả, đáp ứng các yêu cầu về an toàn và độ tin cậy khi làm việc của các công trình thủy công và chống lũ cho hạ du
    • Tấ cả mọi yêu cầu của các hộ dùng nước khác, ngoài ngành năng lượng  có ảnh hưởng đến quá trình tích và tháo cạn hồ chứa do yêu cầu năng lượng cần phải được thỏa thuaajnv à phải được ghi vào quy định sử dụng nguồn nước của từng hồ chứ cụ thể.
  • Trước khi nghiệm thu và đưa nhà máy vào vận hành cơ quan thiết kế phải bàn giao lại cho Ban quản lý công trình:
    • Các nguyên tắc chính đã được thỏa thuận giữa các cơ quan hữu quan về việc sử dụng nguồn nước hồ chứa
    • Các đặc tính thủy lực của công trình xả, các đặc trung thủy văn của dòng chảy tự nhiên và đã điều tiết.
    • Trong quá trình vận hành các nguyên tắc và đặc tính trên cần được chuẩn xác và bổ sung
  • Việc xả lũ qua công trình tràn phải được thử hiện theo đúng quy trình của nhà máy, tránh để xảy ra hư huongr công trình cũng như tạo thành hổ xói quá sâu sau công trình xả lũ dẫn đến làm mất ổn định của công trình.
  • Việc thay đổi lưu lượng xả qua công trình tràn phải được tiến hành từ từ nhằm ngăn ngừa hiện tượng tạo sóng lớn ở hạ lưu. Tốc độ thay đổi lưu lượng được xác định bở các điều kiện tại chỗ. Trong những trường hợp thay đổi đột ngột lưu lượng xả thì giám đốc nhà máy phải thông báo trước cho các trạm thủy văn liên quan và chính quyền địa phương biết.
    • Tốc độ thay đổi lưu lượng nước qua tua bin không cần quy định và sự thay đổi đó không cần thông báo trước.
  • Tại các nhà máy thủy điện để xả lũ tính toán trong dề án có tính đến sử dụng công trình xả của ngành khác quản lý. Trong trường này cần phải lập quy trình xác định điều kiện, thứ tự thao tác và thỏa thuận với cơ quan quản lý công trình liên quan.

Chống bồi lắng phù sa

  • Khi hồ chứ, bể áp lực, kênh dẫn của nhà máy thủy điện bị bồi lắng thì cần phải tháo rửa, nạo vét. Để ngăn chặn phù sa và sự lắng đọng cần áp dụng các biện pháp như thay đổi chế độ dòng chảy phía thượng lưu, gia cố bờ, xây dựng công trình ngăn chặn phù sa bồi lắng hoặc áp dụng các biện pháp cơ khí khác.
  • Trong thời kỳ lưu lượng tư nhiên của dòng sông không thể sử dụng hết để phát điện thì cần sử dụng triệt để lượng nước dư thừa để xả phù sa xuống hạ du và rửa các ngưỡng của nhận nước.
  • Để loại trừ lắng động trong thời kỳ nước đục, kênh dẫn của nhà máy thủy điện cần làm việc ở chế độ ổn định với lưu lượng lớn nhất có thể. Trong một số trường hợp có thể áp dụng xả không tải ở cuối đường dẫn nước.
  • Bể lắng cát của nhà máy thủy điện cần được sử dụng thường xuyên. Việc tách bể lắng cát hoặc một số ngăn riêng biệt của nó ra, để sửa chữa chỉ cho phép khi lượng phù sa trong nước đã giảm hẳn và các loại hạt có thể mài mòn tua bin và thiết bị khác không đáng kể nữa.
    • Chế độ xói rửa bể lắng cát cần được xác định trên cơ sở thí nghiệm và kinh nghiệm vận hành.
  • Trong trường hợp phù sa lắng đọng trước của nhận nước và có khả năng tràn vào công trình cấp nước thì phải khẩn trương làm sạch phù sa, sau khi được phép của công ty Điện lực
    • Nếu việc xói rửa phù sa không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được thì phải tiến hành bằng biện pháp cơ khí. Đối với công trình lấy nước tự nhiên, (Không có đập dâng) xói rửa phù sa có thể thực hiện bằng cách thu hẹp dòng chảy tại chỗ nhằm tăng vận tốc dòng nước để phá vỡ kết cấu phù sa.
  • Ở những hỗ chứa nhà máy thủy điện nào có than bùn cũng như vật nổi dồn ứ thành đống cần được tổ chức vớt ở phía trên các công trình lấy nước và xả nước, tốt nhất là vớt ngay tại chỗ. Than bùn vầ vật nổi vớt lên phải đổ ở các bãi, vũng.
  • Khi thấy các loài thảo mộc phát triển trong các hồ chính và làm mát, các bể phun các tháp làm mát thì cần áp dụng các biện pháp tích cực làm sạch chúng như phương pháp cơ khí, sinh học hoặc hóa học. Khi sử dụng phương pháp hóa học cần phải được pháp của Viện Vệ sinh dịch tễ và Bộ Thủy sản.

Đảm bảo về thủy văn khí tượng

  • Nhiệm vụ đảm bảo thủy văn và khí tượng cho vận hành nhà máy điện là
    • Nhận các dự báo khí tượng thủy văn để xác đinh chế độ làm việc tối ưu cho nhà máy, lập kế hoạch khai thác nguồn nước và tổ chức vận hành các công trình thủy công và hồ chứa theo đúng quy trình
    • Kiểm tra việc sử dụng nguồn nước tại nhà máy điện
    • Nhận các tài liệu khí tượng thủy văn để điều tiết dòng chảy, xả lũ và xả phục vụ tưới, giao thông thủy, sinh hoạt và đảm bảo cấp nước cho các ngành kinh tế quốc dân khác.
    • Nhận các thông tin để có các biện pháp kịp thời ngăn ngừa và hạn chế thiệt hại do thiên tai.
  • Các nhà máy điện phải yêu cầu các cơ quan khí tượng thủy văn cung cấp những số liệu sau:
    • Thông báo về dòng chảy đang sử dụng (lưu lượng, mực nước, nhiệt độ nước, phù sa)
    • Bảng cân bằng nước của các hồ chứ điều tiết nhiều năm, năm và điều tiết mùa
    • Thông báo về tình hình khí tượng (Nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa, tốc độ gió, hướng gió và giông sét)
    • Những dự báo khi tượng – thủy văn cần thiết để vận hành nhà máy
    • Trong những trường hợp cần thiết các nhà máy điện yêu cầu cơ quan khí tượng, thủy văn cung cấp các số liệu về chỉ tiêu lý, hóa học, độ nhiễm bẩn của nước và các thông tin đột xuất về sự thay đổi độ nhiễm bẩn của nước sử dụng.
  • Khối lượng và thời gian chuyển các dự báo khí tượng, thủy văn và dự báo các hiện tượng nguy hiểm đối với mỗi nhà máy điện do Công ty Điện lực cùng các cơ quan hữu quan của ngành khí tượng thủy văn thỏa thuận.
    • Các dự váo và số liệu thực sẽ được điều chỉnh tại nhà máy điện
  • Ở mỗi nhà máy điện phải có các quy trình quy định cách thức và thời gian cụ thể việc tổ chức quan trắc tại chỗ:
    • Mức nước thượng, hạ lưu các công trình dâng nước, nhận nước và kênh dẫn
    • Lưu lượng nước xả qua công trình thủy công và lượng nước sử dụng cho các thiết bị công nghệ
    • Độ đục của nước lắng đặng phù sa (trong hồ chứ)
    • Nhiệt độ nước và không khí
    • Các chỉ tiêu về chất lượng nước sử dụng và nước xả (theo các điều kiện tại chỗ). Quy trình quan trắc khí tượng thủy văn tại nhà máy phải phù hợp với các quy đinh kỹ thuật của ngành khí tượng thủy văn.
  • Các nhà máy thủy điện phải xác định toàn bộ dòng chảy trung bình ngày đêm qua tuyến đập. Tính toán dòng chảy qua âu tàu, các công trình chuyển cá và các công trình khác tham gia và thành phần tuyến áp lực phải do nhân viên vận hành công trình đó tiến hành và phải thông báo cho nhà máy điện
    • Lưu lượng hàng ngày qua tuyến công trình cần chuyển cho cơ quan khí tượng –  thủy văn khi có yêu cầu
  • Lưu lượng trung bình ngày đêm qua nhà máy thủy điện phải được xác định bằng đồng hồ đo lưu lượng, trong trường hợp không có đồng hồ đo nêu trên tạm thời cho phép sử dụng các đặc tính đã được hiệu chỉnh của thiết bị công nghệ và các phương pháp tin cậy khác.
  • Đối với tất cả các hồ hcuws điều tiết dòng chảy phải xác đinh dòng chạy ngày đêm đến tuyến công trình theo số liệu của cơ quan khí tượng thủy văn.
  • Mực nước thượng, hạ lưu của nhà máy thủy điện, cột nước làm việc của tua bin, tổn thất cột nước qua các lưới chăn rác cần được đo bằng các đồng hồ và báo từ xa về phòng điều khiển trung tâm. Điểm chuẩn của các trạm đo nước cần phải quy định thống nhất theo cùng một hệ cao độ
  • Các trạm đo lưu lượng phải kiểm tra định kỳ caao trình không quá 5 năm một lần
  • Khi nhà máy điện phải xả sự cố các chất nhiễm bẩn cũng như phá vỡ chế độ quy định về sử dụng các nguồn nước thì phải trực tiếp hoặc thông qua Công ty Điện lực thông báo cho cơ quan khí tượng – thủy văn biết.
  • Tại các hồ chứa, phải đặt thiết bị kiểm tra chất lượng nước, trong trường hợp cần thiết phải có biện pháp ngăn ngừa sự nhiễm bẩn do chất thải công nghiệp, phóng xạ và sinh hoạt gây nên để đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh nhằm hạn chế cáu rỉ thiết bị của nhà máy
Quản lý nước ở nhà máy điện đảm bảo về thủy văn và khí tượng
5 (100%) 1 vote

Hãy chia sẻ, nếu bạn cảm thấy bài viết có ích cho bạn bè !