Mạng lưới thoát nước trong nhà bao gồm các đường ống và các phụ tùng nối ống (trong đó chia rá ống nhánh, ống đứng, ống tháo nước ra khỏi nhà các thiết bị xem xét tẩy rửa và thông hơi).

Đường ống thoát nước rà cắc phụ tùng nối ống

Ống dẫn nước bẩn gồm các loại sau đây:

Ống gang

Thường dùng ưong các nhà công cộng quan trọng và nhà công nghiệp. Ống gang chế tạo theo kiểu miệng bát có D = 50 ÷ 150 mm, chiều dày ống từ 4 ÷ 5mm, L = 500mm ÷ 4000 mm. Để đảm bảo cho nước không thấm ra ngoài người ta nối 2/3 miệng bát nhét chặt bằng sợi gai tẩm bi tum sau đó nhét vữa xi măng vào phần còn lại. Miệng bát của ống bao giờ cũng đặt ngược chiều với hướng nước chảy.

Ống sành

Độ bền kém, dễ vỡ, không bị xâm thực chế tạo theo kiểu miệng bát. Loại ống sành dùng để thoát nước bên trong nhà và ngoài sân của các nhà ở gia đình và tập thể có tiêu chuẩn thấp. Đường kính ống: 50 ÷ 150 mm, chiều dài 0,5 ÷ 1 m. Cách nối cũng như ống gang

Ống thép

Chỉ để dùng dẫn nước thoát từ các chậu rửa, chậu tắm, vòi phun nước uống… đến ống dẫn bằng gang hoặc sành trong sàn nhà có đường kính <50 mm, chiều dài ngắn.

Ống phi brô xi măng

Đường kính từ 80 ÷ 150 mm trở lên, đúc theo kiểu miệng loe (d nhỏ) hoặc hai đầu trơn (d lớn) có thê làm ống thoát trong nhà. Ống này kích thước lớn chủ yếu dùng bên ngoài

Ống nhựa

Trong những năm gần đây ở nước ta đã áp dụng phổ biến dùng ống nhựa sản xuất ở trong và ngoài nước để lắp đặt mạng lưới thoát nước trong nhà. Ông nhựa thường được sản xuất bằng pô-li – clô-ri-nhin chế tạo với kiểu miệng loe với nhiều kích cỡ khác nhau, đường kính d = 50 ÷ 150 mm

Các phụ tùng nối ống cũng được sản xuất bằng nhựa. Phương pháp nối ống nhựa thoát nước bằng ren, bằng ghép lồng, bằng dán keo.

Ống nhựa dùng làm mạng lưới thoát nước bên trong nhà đảm bảo điều kiện mĩ thuật, không nên dùng để dẫn nước nóng vì dễ bị lão hoá do nhiệt độ.

Ống bê tông cốt thép

Có đường kính d ≥ 150 mm được chế tạo theo kiểu hai đầu trơn chủ yếu dùng để thoát nước ưong sân nhà.

Cũng như trong cấp nước, để nối các chỗ ngoặt, rẽ, cong,… người ta thường dùng các phụ tùng nối ống bằng gang, sành, nhựa như sau: cút (90°, 110°, 135°, 150°), côn, tê, thập thẳng hoặc chéo (45° hoặc 60°) có đường kính đồng nhất hoặc từ to sang nhỏ, ống cong chữ S, ống ngắn… Các phụ tùng nối ống cũng chế tạo theo kiểu miệng bát 

Các ống và phụ kiện nối thoát ống

Các ống và phụ kiện nối thoát ống

Khi dùng các phụ tùng để nối ống ở chỗ gãy góc ta lưu ý lắp nối các phụ tùng ấy sao cho góc nối > 90° để cho dòng nước dễ

Ống nhánh

Dùng để dấn nước bẩn đưa vào ống đứng. Nó là đoạn ống nằm ngang ở các tầng, nối từ các thiết bị thu nước bẩn đến ống đứng thoát nước, có độ dốc thích hợp theo tính toán. Ống nhánh nối liền với các thiết bị vệ sinh bằng ống cong giữ nước (xi-phông) để thu nước bẩn từ các thiết bị vệ sinh chảy ra

Nhóm xí tiểu ngồi bệt nối với ống nhánh

Nhóm xí tiểu ngồi bệt nối với ống nhánh

Ống nhánh phục vụ từ 2-3 thiét bị vệ sinh trả lên thì đầu trên cùng có lắp một ống súc rửa. ông nhánh có đường kính tối thiểu là 50 mm; nếu có dẫn phân thì đường kính không được nhỏ hơn 100mm, và bằng nhau suốt từ trong ra ngoài. Ông nhánh có thể đặt:

  • Bên trên sàn nhà: Nếu tầng duới không phải là phòng vệ sinh và sàn nhà mỏng.
  • Đặt trong bề dầy của sàn: Nếu bề dầy của sàn đủ đặt ống với chièu dài và độ dốc cần thiết. Trường hợp này dùng khi yêu cầu mĩ quan cao, nhưng khó thi công và quản lí.
  • Dưới sàn nhà (dạng ống treo): Sàn gác mỏng và ngay buồng tầng dưới là phòng vệ sinh, không cần mĩ quan cao. Ống nhánh dài quá 6m người ta đặt một lỗ kiểm tra và nói chung ống nhánh không nên dài quá 10m.

Trong các nhà ở gia đình và công cộng khi yêu cầu mĩ quan không cao lắm, có thể xây đựng các máng nổi để dẫn nuớc tắm, rửa, giặt, đến các ống đứng, trước khi nước vào ống đứng phải qua phễu thu và xi-phông. Máng có thể xây bằng gạch hoặc bê tông, có chiều rộng : 100 ÷ 200mm và độ dốc tối thiêu là 0,01.

Ống đứng

Đặt thẳng đứng suốt các tầng, dùng để tập trung nước thoát từ các ống nhánh ở các tầng đưa xuống ống xả để đưa ra khỏi công trình.

Ống đứng thường bô trí ở góc tường, rãnh tường hoặc sát tường gần nơi có nhiều dụng cụ vệ sinh bẩn nhất (như hó xí) để tránh làm tắc ống. Đường kính ống đứng tối thiểu là 50mm; nếu ống đứng có dẫn phân dù chỉ dẫn cho một hố xí thôi cũng phải tối thiểu là 100 mm.

Ống nhánh nối với ống đứng

Thông thường ống đứng đặt thẳng đứng từ tầng dưới lên tầng trên và có đường kính bằng nhau. Nếu cấu trúc của nhà không cho phép làm thẳng đứng thì có thể đặt một đoạn ngang ngắn có hướng dốc lên. Trường hợp chiều dày tường, móng nhà thay đổi thì dùng ống cong chữ S. Khi trên ống đứng có đoạn ống nằm ngang thì không được nổi ống nhánh vào ống nằm ngang này.

Trên ống đứng, cứ cách môi sàn nhà 1m người ta đặt 1 lỗ kiểm tra. Ống đứng nhô lên cao khỏi mái nhà 0,70m để làm ống thông hơi.

Ống xả

Là ống chuyển tiếp từ cuối ống đứng (dưới nền nhà tầng một hoặc tầng hầm) ra giếng thăm ngoài sân nhà. Chiều dài ống xả lấy như sau:

d = lOOmm —> Lmax= 15m

d = 150mm —> Lmax = 20m

Trên đường ống xả, cách móng nhà từ 3 ÷ 5m người ta thường bố trí một giếng thăm, chỗ đường ống xả gặp đường ống thoát nước ngoài sân nhà cũng phải bố trí một giếng thăm (có thể kết hợp 2 giếng làm một).

Góc ngoặt giữa ống xả và ống thoát nước ngoài sân nhà không được nhỏ hơn 90° theo chiều nước chảy. Có thể nối 1 hay 2, 3 ống xả chung trong một giếng thăm. Ống xả có đường kính bằng hoặc lớn hom đường kính ống đứng nhưng tối thiểu phải bằng l00 mm.

Chỗ ống xả xuyên qua tường, móng nhà phải chừa một lỗ lớn hơn đường kính ống, tối thiểu là 30cm. Khe hở giữa ống và lỗ phải bịt kín bằng đất sét nhào (có thể trộn với đá dăm, gạch vỡ) nếu là đất khô. Trường hợp đất ướt có nước ngầm thì phải đặt trong ống bao bằng thép hay gang và nhét kín khe hở bằng sợi gai tẩm bi-tum. Cho phép đặt ống xả dưới móng nhà, thiết bị nặng, nhưng đường ống phải được bảo vệ cẩn thận, tránh vỡ.

Độ dốc của ống xả ra ngoài nhà có thể lấy lớn hơn tiêu chuẩn thông thường một chút đế đảm bảo nước chảy ra khỏi nhà được nhanh chóng, dễ dàng, ít bị tắc.

Độ sâu đặt ống xả phụ thuộc vào độ sâu của cống thành phố hay độ cao của mặt nước sông hồ gần đó thải ra.

Ống thông hơi

Là phần ống nối tiếp ống đứng đi qua hầm mái và lên cao hơn mái nhà toi thiểu là 0,7 m và cách xa cửa sổ, ban công nhà láng giềng tối thiểu là 4 m để dẫn các khí độc, các hơi nguy hiểm có thể gây nổ như : NH3, H2S, C2H2, CH4, hơi dầu… ra khỏi mạng lưới thoát nước bên trong nhà.

Chi tiết ống thông hơi

Việc thông hơi được thực hiện bằng con đường tự nhiên do có lượng không khí lọt qua các khe hở của nắp giếng thăm ngoài sân nhà đi vào các ống đứng thoát nước. Do có sự khác nhau về nhiệt độ và áp suất giữa không khí bên trong ống và ngoài trời, nó bay lên khỏi mái nhà và kéo theo các hơi độc dễ nổ. Trên nóc ống thông hơi có một chóp hình nón để che mưa bằng thép lá dày 1-1,5 mm và có của để thoát hơi. Theo quy phạm không được nổi ống đứng thoát nước với ống thông khói của nhà. Trong trường hợp mái bằng sử dụng đế đi lại, phơi phóng thì chiều cao của ống thông hơi phải > 3m. Đường kính của ống thông hơi có thể lấy bằng hoặc nhỏ hơn đường kính ống thoát nước một chút. Chỗ cắt nhau giữa ống thông hơi và mái nhà phải có biện pháp chống thấm tốt. 

Trong các nhà cao tầng hoặc các nhà đã xây dựng nay tăng thêm thiết bị vệ sinh mà không thay đổi ống đứng được thì lượng nước trong ống đứng rất lớn (vận tốc V > 4 m/s, lớp nước chiếm quá nửa đường kính ống) khí không kịp thoát ra ngoài, khi đó phải bổ trí các ống thông hơi phụ. Theo quy phạm đường ống thông hơi phụ phải đặt trong các hường hợp sau:

  • Khi đường ống đứng thoát nước d = 50 mm mà lưu lượng nước lớn hơn 2 l/s
  • Khi đường ống đứng thoát nước d = 100 mm mà lưu lượng nước lớn hơn 9 l/s .
  • Khi đường ống đứng thoát nước d = 150 mm mà lưu lượng nước lớn hơn 20 l/s.

Ống cong (xi-phông) giữ nước

Xi-phông hay còn gọi là khoá thuỷ lực có nhiệm vụ ngăn ngừa mùi hôi thối và các hơi độc từ mạng lưới thoát nước bay vào phòng. Xi-phông đặt dưới mỗi thiết bị thu nước bẩn hoặc một nhóm thiết bị thu nước bẩn. Xi-phông có thể chế tạo riêng rẽ (chậu rửa, rửa mặt, tắm v.v…) hoặc gắn liền với thiết bị thu nước (âu xí, phễu thu..)

Theo cấu tạo, xi-phông chia ra các loại sau đây:

  • Xi-phông uốn khúc kiểu thẳng đứng, nằm ngang và nghiêng 45° thường áp dụng cho âu xí.
  • Xi-phông kiểm tra thường áp dụng cho các chậu rửa, âu tiểu.
  • Xi-phông hình chai thuờng đặt dưới các chậu rửa mặt, đôi khi cả chậu tiểu trên tường.
  • Xi-phông trên sàn; áp dụng cho các chậu tắm.
  • Xi-phông ống dùng cho một âu tiểu.
  • Xi-phông thu nước sản xuất.

Các thiết bị quản lý

Lỗ kiểm tra (ống kiểm tra)

Dùng để xem xét tình hình làm việc của đường ống, để thông ống khi bị tắc và tẩy rửa sạch ống khi cần thiết. Lỗ kiểm tra thường bố trí trên ống đứng (chỗ có ống nhánh nối vào ống đứng), cách sàn nhà 1 m cao hơn mép dụng cụ vệ sinh néi vào ống đứng tối thiểu là 15 cm. Trong các nhà cao tầng (từ 5 tầng trở lên) thì tối thiểu 3 tầng phải có 1 lỗ kiểm tra để thông tác khi cần.

Lỗ kiểm tra

Lỗ kiểm tra gắn liền vào một đoạn ống, có nắp đậy, vít băng bu-lông có cao su đệm. Nêu ống lẩn trong tường, sàn thì tại chỗ lỗ kiểm tra phải có giếng kiểm tra kích thước 70x70cm có nắp đậy.

Ống súc rửa

Sau khi thông tắc, đường ống nhánh phải cần một lượng nước để súc rửa những chất bẩn còn lại và súc rửa những đoạn ống nằm ngang khác.

Ống súc rửa được đặt ở đầu các ống nhánh, cao hoặc sát mặt sàn. Nó là một đoạn ống cong 90°, thường có nút bằng gang hay thép để đậy đầu ống.

Khi nút đầu ống thì dùng dây gai tẩm nhựa đường bịt kín các khe hở. Khi sử dụng để súc rửa thì mở nút, nối miệng súc rửa với ống cao su đến vòi nước rồi vặn cho nước chảy vào.

Sau đây là khoảng cách lớn nhất giữa các ống kiểm tra, ống súc rửa trên đoạn ống thẳng nằm ngang (TC 19-64).

Khoảng cách giữa các ống kiểm tra, tẩy rửa

Giếng kiểm tra

Còn gọi là giếng thăm, thường xây trên đường tháo nước ngoài sân (chỗ nối giữa ống thoát nước ngoài sân và ống xả từ trong nhà ra)

Vật liệu làm bằng gạch, bê tông đúc sẵn, thường xây hình tròn, hình vuông, có đường kính tối thiểu 0,70m đủ cho một công nhân xuống làm việc dễ dàng.

Phần trên miệng giếng có xây gờ để đậy nắp bê tông cốt thép. Trong nước bẩn có mang nhiều rác, cặn bã, cát, cần phải cho đọng lại ở đáy rồi lấy lên. Cho nên đáy giếng phải làm sâu hơn đáy cống để cống không bị tắc. Khi cống được thiết kế với tốc độ tự rửa thì đáy giếng bằng đáy cống.

Nối ống xả với ống thoát ngoài sân tại giếng kiểm tra theo 2 cách là nối đỉnh ống xả ngang với đỉnh ống cống và nối mức nước trong hai ống ngang nhau

Cách bố trí ở giếng kiểm tra

Khi ối ống theo 2 phương pháp trên thi góc nối tiếp theo chiều nước chảy của dòng tháo nước bên ngoài không được nhỏ hơn 900. Vì nếu nhỏ hơn 900 thì nước chảy trong ống xả ngược chiều với dòng nước chảy tập trung ngoài nhà, làm giảm tốc độ và sinh ra tắc ống.

Cần đặt giếng kiểm tra vào những nơi: các đường ống gặp nhau, thay đổi độ dốc, thay đôi đường kính ống, ống đi cong, mặt đất dốc nhiều và trên đường ống thẳng, cách khoảng 30m.

Nếu ống kiểm tra của ống xả hay ống nhánh đặt ngầm dưới đất trong nhà thì phải đặt trong giếng kiểm tra, hình tròn hoặc vuông, kích thước mỗi chiều không nhỏ hơn 700mm và có độ dốc tổi thiểu 0,05 về miệng kiểm tra.

Các kiểu giếng kiểm tra

Khi mức chênh lệch  giữa cốt đáy ống tháo và ống sân nhà, tiểu khu, thành phố từ 0,5m trở lên thì phải xây các giếng chuyển bậc để dòng nước chẩy được nhịp nhàng và giêng khỏi bị phá hoại. Giếng chuyên bậc đơn giẳn dùng cho các ống đường kính nho (d < 250mm) giới thiệu.

Các loại giếng chuyển bậc

Xem thêm: Áp Lực Trong Hệ Thống Cấp Nước Trong Nhà

Cấu tạo mạng lưới thoát nước trong nhà
5 (100%) 4 votes

Hãy chia sẻ, nếu bạn cảm thấy bài viết có ích cho bạn bè !